Phụ kiện thời trang

Hành trình thiên niên kỷ của ngành đồng hồ

Đồng hồ mang trong mình một lịch sử lâu dài với vô vàn những câu chuyện thú vị. Cùng chúng tôi tìm hiểu và khám phá hành trình ra đời và phát triển của những cỗ máy đếm giờ!

Câu chuyện về ngành đo đếm thời gian đã bắt đầu từ rất lâu, trước khi những chiếc đồng hồ đeo tay thực sự ra đời. Nhu cầu làm chủ thời gian của nhân loại hẳn có lẽ đã bắt đầu từ thời tiền sử. Chúng ta biết rằng khi con người bắt đầu phát triển các cấu trúc xã hội phức tạp, việc sắp xếp thời gian trở thành một nhu cầu bức thiết. Một xã hội đồng nghĩa với việc con người cần được chỉ cho biết khi nào bắt đầu những công việc như săn bắn, hái lượm, làm nông và khi nào thì dừng lại. Và tại một thời điểm nào đó trong lịch sử xa xưa và vĩnh hằng của nhân loại, ý tưởng về việc cần phải kiểm soát thời gian, để thời gian phục vụ con người tốt nhất đã xuất hiện.

Trong hàng thế kỷ nay, bầu trời và những chiếc đồng hồ để bàn hiển nhiên là có một sự liên kết chặt chẽ với nhau. Mọi người viện tới mặt trời, mặt trăng và các vì sao để tính toán thời gian, tuy nhiên sự phân chia thời gian này diễn ra trên một phạm vi lớn – theo tuần, tháng và mùa. Nhu cầu chia nhỏ thời gian từ đơn vị ngày sang các đơn vị nhỏ hơn chỉ xuất hiện khi nền văn minh của nhân loại trở nên phức tạp hơn. Và Ai Cập chính là những người đầu tiên đưa ra ý tưởng về một hệ thống đo 24 giờ một ngày. Những chiếc đồng hồ để bản đầu tiên của họ là những chiếc đồng hồ mặt trời với những thanh được cắm thẳng ở tâm và đổ bóng lên mặt số. Các cọc số sẽ được chạm khắc lên đá hoặc trên một đĩa kim loại. Tuy nhiên, có thể thấy nhược điểm của những chiếc đồng hồ này là chúng chỉ “hoạt động” khi có mặt trời. Để giải quyết điều này, những con người thời kỳ tiền sử đã tìm rất nhiều cách khác thay thế, chẳng hạn như đo đếm giờ bằng những cây nến với những vạch trên thân nến cho biết thời gian, hay phổ biến hơn là những chiếc đồng hồ cát. Ngoài ra, còn có những phát kiến khác để giải quyết nhu cầu đo đếm thời gian là đồng hồ nước (đồng hồ Clepsydra) được người Trung Quốc phát minh khoảng năm 3000 Trước Công Nguyên với nguyên lý hoạt động gần giống với đồng hồ cát nhưng có các vạch báo giờ. Người Ai Cập đã gắn liền cuộc sống của mình với những chiếc đồng hồ mặt trời vào khoảng năm 1500 Trước Công Nguyên. Còn khi Plato giới thiệu với những người Hy Lạp chiếc đồng hồ nước Clepsydra, những người Hy Lạp (và cả người La Mã) đã tạo ra những mẫu đồng hồ nước này.

Với sự sụp đổ của Đế chế La Mã, nhu cầu đo đếm thời gian không còn trở nên bức thiết với người châu Âu như trước và nó đã như vậy cho tới tận thế kỷ 12 khi nhu cầu về những cỗ máy có thể đo đếm giờ lại xuất hiện, và trong trường hợp này cụ thể là một chiếc đồng hồ cơ khí. Phát minh có ảnh hưởng quyết định đối với sự ra đời của những chiếc đồng hồ cơ là cơ chế hồi escapement có chức năng kiểm soát việc giải phóng năng lượng và sự hoạt động của bộ máy.

Ý tưởng về cơ chế hồi đầu tiên trên thế giới là của kiến trúc sư người Pháp, Villard de Honnecourt và vào thời điểm năm 1250 Sau Công Nguyên. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào chứng tỏ ông đã tạo ra một chiếc đồng hồ để bàn có cơ chế này. Chiếc đồng hồ để bàn có cơ chế hồi đầu tiên xuất hiện ở châu Âu là vào khoảng cuối thế kỷ 13. Cũng không ai biết chiếc đồng hồ đầu tiên là do ai phát minh ra, hoặc được phát minh ra ở đâu nhưng có thể chắc chắn Anh, Pháp, Ý và Bỉ là những cái tên nằm trong danh sách ứng viên này. Trong đó, Pháp hẳn nhiên dẫn đầu danh sách. Na Uy và Anh đã có tháp đồng hồ đầu tiên trên thế giới vào khoảng năm 1352. Thành phố St. Albans, gần London, cũng có một tháp đồng hồ ngay từ thời điểm giữa thế kỷ 14.

Những chiếc đồng hồ clock watch này đã không có kim. Đồng hồ báo giờ bằng những tín hiệu điểm chuông – đây có lẽ là lý do tại sao người Anh lại dùng từ clock để nói về những chiếc đồng hồ để bàn. Trong tiếng Pháp cổ, từ chuông – bell – có nghĩa là clock, còn trong tiếng Latin Trung Cổ là clocca. Tuy nhiên, cùng với thời gian, kim giây và con lắc được gắn kết và tới cuối thế kỷ 14, những chiếc đồng hồ lớn có kim giờ được dựng lên trên khắp châu Âu. Tuy nhiên, phải còn một quãng đường xa nữa những chiếc đồng hồ to lớn mới thu nhỏ lại và trở thành món đồ mang theo người của những quý tộc. Theo những sử gia thì cơ chế đầu tiên được xem là đồng hồ phải mãi tới tận sau năm 1511, khi một người Đức có tên là Peter Henlein tạo ra, mới xuất hiện.

Những chiếc đồng hồ để bàn có kích thước nhỏ dần trở nên phổ biến, đặc biệt là đối với các thành viên hoàng tộc. Hoàng đế Charles V đã đặt hàng rất nhiều chiếc, và (đồn rằng) ở Pháp, người thợ làm đồng hồ Julien Coudray đã làm ra 02 con dao găm có chuôi dao gắn đồng hồ cho Vua Louis XI. Và những nỗ lực ban đầu trong việc chinh phục ngành nghề chế tác đồng hồ thường là của người Pháp và người Đức – người Anh và người Thụy Sỹ chỉ bắt đầu làm những chiếc đồng hồ bỏ túi vào thời điểm cuối thể kỷ 16. Được biết, một trong những chiếc đồng hồ Anh đầu tiên là một chiếc đồng hồ trên một chiếc vòng mà Bá tước Leicester đã tặng Nữ hoàng Elizabeth I vào năm 1571. Ban đầu những chiếc đồng hồ portable (có thể mang theo) thường có vị trí nằm trên dây chuyền ở cổ hoặc được đeo vòng quanh cổ tay như của Nữ hoàng Elizabeth I. Nhưng tới những năm 1670, Vua Charles II đã phổ biến một áo vạt dài và những người đàn ông đã tìm ra được một vị trí thích hợp cho những chiếc đồng hồ của mình: Trong túi áo khoác. Và cũng chính từ đây, những chiếc đồng hồ pocket watch đầu tiên đã ra đời.

Sự ra đời của những cơ chế và các chi tiết mới như dây tóc (năm 1500) và vành tóc (năm 1675) đã góp phần cải thiện độ chính xác của việc đo đếm thời gian và dẫn tới sự ra đời của kim phút mặc dù vẫn phải nói rằng, trong rất nhiều năm sau đó hầu hết những chiếc đồng hồ vẫn chỉ có một kim và độ chính xác thì ở mức tệ hại. Người đàn ông đã thay đổi điều này chính là Abraham-Louis Breguet (1747 – 1823), giờ đây được xem là cha đẻ của đồng hồ đeo tay hiện đại (đó chỉ là một trong rất nhiều sáng kiến của ông về sự sáng tạo trong thuật làm đồng hồ).

Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo cơ hội cho đồng hồ tiếp cận đến với đông đảo quần chúng. Máy móc góp phần đơn giản hóa việc thực hiện các chi tiết của đồng hồ và thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của việc chế tác thủ công. Bên cạnh đó, nhu cầu dành cho những chiếc đồng hồ chính xác hơn đã xuất hiện. Lần đầu tiên trong lịch sử, số người làm việc ở các nhà máy nhiều hơn số người làm việc ở nhà. Thời gian làm việc cần được đo đếm để người lao động có thể nhận được một mức chi trả tương xứng. Phương tiện giao thông mới – những đoàn tàu – cũng chỉ có thể hoạt động tốt nếu có một lịch trình chính xác và không đổi. Những chiếc đồng hồ dành cho những kỹ sư lái tàu và những người soát vé đã nhanh chóng được các công ty cho ra đời.

Tuy nhiên, tại thời điểm này, các mẫu đồng hồ chủ yếu vẫn là đồng hồ quả lắc bởi khi đó, đàn ông chưa có thói quen đeo một thứ gì đó quanh cổ tay của mình. Nhưng điều này đã thay đổi vào cuối thế kỷ 19, khi những người lính phát hiện ra sự hữu dụng của một chiếc đồng hồ khi ở trên chiến trường. Nhưng đồng hồ bỏ túi khá bất tiện khi muốn xem giờ, người lính sẽ phải lấy đồng hồ ra khỏi túi áo để xem và điều đó đồng nghĩa với việc một tay của anh ta sẽ phải dành để làm việc này. Để giải quyết bất tiện này, những người lính đã lấy dây và quấn đồng hồ quanh cổ tay.

Có lẽ Girard-Perregaux là cái tên đi đầu trong việc sản xuất đồng hồ đeo tay cho nam giới khi thương hiệu này đã trang bị đồng hồ cho Hải quân Đế quốc Đức vào năm 1880. Khi chiến tranh kết thúc, những người lính trở về và họ đã quen với những chiếc đồng hồ đeo tay nên đã không quay trở lại với những chiếc đồng hồ bỏ túi. Và điều này còn đúng hơn nữa khi ngay cả những phi công cũng nhận ra rằng thứ họ cần là những chiếc đồng hồ đeo tay chứ không phải đồng hồ bỏ túi. Các vận động viên trong Thế Vận Hội Olympics 1920 đã đeo đồng hồ đeo tay và chẳng mấy chốc những thương hiệu đồng hồ như Rolex (được thành lập năm 1905) đã phổ biến những chiếc đồng hồ có cơ chế tự lên dây và có khả năng chống thấm với áp suất nước cao. Và tới cuối những năm 1920, số lượng đồng hồ đeo tay bán ra đã vượt mặt số lượng đồng hồ bỏ túi.

Chiến tranh Thế giới lần II nổ ra, và những nhà sản xuất đồng hồ cũng bị cuốn vào cuộc chiến này. Những nhà chế tác đồng hồ của Thụy Sỹ trung lập chọn cách sản xuất đồng hồ cho cả 02 phe và điều này đã giúp Thụy Sỹ sản xuất và xuất khẩu đồng hồ nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào (nếu tính tới những năm 70 của thế kỷ trước, Thụy Sỹ kiểm soát hơn một nửa thị trường đồng hồ). Hiện nay, đồng hồ và đồng hồ cơ vẫn là một phần quan trọng và không thể thiếu của những người đàn ông – cho dù tính từ thời điểm chiếc đồng hồ bỏ túi đầu tiên ra đời đã hơn 500 năm.

 

Nên xem thêm
Close
Back to top button